TÓM LƯỢC THIỀN LÂM TẾ ,
Sư người gốc tỉnh Phúc Kiến, xuất gia
trên núi Hoàng Bá nên có tên Hòang Ba Thiền Sư Hi Vận và về trụ trì chùa Ðại
An ở Hồng Châu.
Sư chỉ dạy rất đơn giãn dễ nhớ cho người học đạo là không
giữ vọng tâm, chỉ học cái không mong cầu.
Phàm phu thủ cảnh. Đáo nhơn thủ
tâm.
Phải quên cảnh và quên Tâm là pháp
chân thật.
Quên cảnh thì dễ, quên tâm thi
khó.
Khó vì sợ trống rỗng không có
chổ để nắm níu. Nhưng không có chổ nắm đó mơi là pháp chân thật.
I-THIỀN LÂM TẾ TẠI VIỆT NAM.
Thiền
phái Lâm Tế từ Trung Hoa truyền sang Việt
Nam vào đời nhà Trần va thời Vua Lê , chúa Trịnh, chúa Nguyển.
Sau khi vao Viết Nam, thiền Lâm Tế được biến cải để phù hơp vơi văn hóa và phong tục của Việ́t Nam.
Thế kỷ 17, Viết Nam có sự hiện diến của các thiền sư Trung Hoa
sau đây tại miền Bắc và miên Trung :
1- Thiền sư Viên Cảnh và
Viên Khoan tại Quảng Trị.
2-Thiền sư Minh Hoằng táị chùa Ấn Tôn, Thuận Hóa.
3-Thiền sư Giác Phong tại chùa Thiên Thọ, Thuận Hóa.
4-Thiền sư Từ Lâm tại chùa Từ Lâm, Thuận Hóa.
5-Thiền sư PhápBảo tại chùa Chúc Thánh, Quảng Nam.
6-Quốc sư
Hưng Liên tại
chùa Tam Thai, Quảng Nam.
7-Thiền sư Pháp Hóa, tại chùa Thiên Ấn, Quảng Ngãi.
8-Thiền sư Tế Viên, tại chùa Hội Tông, Phú Yên.
9-Thiền sư Nguyên Thiều, tại chùa Thập Tháp Di Ðà tỉnh Bình Ðịnh , chùa Quốc Ân và chùa Hà Trung, Thuận Hóa.
10-Thiền sư Thạch
Liêm, tại chùa Thiền Lâm,
Thuận Hóa.
Có 8 thiền sư thuộc phái thiền Lâm Tế,
Còn Quôc sư Hưng
Liên tái Quảng Nam và thiền
sư Thạch Liêm tại Thuận Hóa thuộc phái
thiền Tào Ðộng.
II-THIÊN TRÚC LÂM YÊN TỬ DO VUA TRÂN NHÂN TÔNG SÁNG
LẬP.
Thiền sư Chân Nguyên (1647-1726) với pháp danh làTuệ Đăng theo phái Thiền Lâm
Tê nhưng đã có công khôi phục lại Thiền Trúc Lâm Yên Tử.
Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử do vua Trần Nhân
Tông (1258-1308) sáng lập. Vua tự chọn tên cho vua là Trúc Lâm khi muốn lên
tu tại núi Yên Tử.
Năm 1299, vua
xuất gia tại chùa Hoa Yên núi Yên Tử, lấy hiệu là Hương Vân Ðầu Ðà , sau đó
đổi tên là Trúc Lâm Ðầu Ðà.
Giử ngôi vua 14 năm, nhường ngôi 5
năm, xuất gia 8 năm và thọ được 51 tuổi.
Vua được nhận là người truyền thừa chính thức của phái
Yên Tử, thế hệ thứ sáu, tiếp nối vị tổ sư thứ năm là thiền sư Huệ Tuệ.
Phong trào Phật giáo nhập thế gọi là Trúc Lâm Yên Tử chỉ thịnh vượng̣ cho đến giữa thế kỷ 14.
Sau đó, phong trào yếu dần. Từ đây cho đến cuối thế kỷ 16 vì thiếu sự nâng đỡ của những vua kế tiêp nên phật tử và đạo phật quayvề vơi các chùa trên núi và vùng thôn quê.
II-NGUỒN GỐC BÀI HỌC DUY THỨC TẠI VIẾT NAM.
Bai học được tìm th́ấy tại Chùa Thập Tháp viết bằng chữ nho trong cuố́n có tên là
(Luận Đại Thừa Một Trăm Pháp)
Cuốn “Đại Thừa Bá Pháp Minh Môn Luận Chuế Ngôn” viểt bằng chữ Nho được Sư Cụ THẬP THÁP Chùa Long Khánh tỉnh Quy Nhơn trao cho Hoà Thượng Thích Thiên Hoa năm Đinh Mão 1957 với lời nó́i :
“Tôi biếu Ngài một cái chìa khóa để mở kho Duy thức. Người nghiên cứu Duy thức mà không đọc trước Luận nầy thì cũng như gỡ nùi tơ rối mà không tìm được mối. Vậy Ngài nên đọc Luận nầy cho kỹ rồi nghiên cứu THÀNH DUY THỨC. Ngài sẽ thấy dễ dàng...”
Những năm trước đó khi Hoà Thương Thích Thiện Hoa còn học Đạo tại tỉnh Long Xuyên có nhận từ Sư Cụ Tuyên Linh Lê Khánh Hòa một cuốn “ Đại Thưà Bá Pháp Minh Môn Luận ” nhưng đọc không hiểu gì nên đã kể lại sự khó khăn với Sư Cụ THẬP THÁP khi gặp Ngài tại Quy Nhơn.
Năm 1958, Hoà Thượng Thích Thiện Hoa dịch cuốn “ Đại Thừa Bá Pháp Minh Môn Luận Chuế Ngôn” từ chữ Nho ra việt ngữ.
Yếu chỉ của DUY THỨC HỌC là phân tách Tàng Thức thành 8 tám thức riêng biệt là:
Nhản thức, Nhĩ thức, Tỷ thức, Thiệt thực, Thân thức, Y thức, Tàng thức (còn được gọi là Alạigia hay Adana) và Manas thức (có nhiệm vụ liên lạc giữa 6 thức với thức thứ tám gọi là Tàng thức),
Nhiệm vụ của tám thức theo bài kệ rất dễ hiểu như sau.
“Anh em tám chú một chàng si (Thức thứ bảy).
Duy có ý thức rất linh ly ( Khôn ngoan).
Năm người ngoài cửa lo buôn bán (Năm thức nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân).
Làm chủ trong nhà Đệ Bát Y (Thức thứ tám) “
Kệ viết bằng chử Nho:
“Bát cá huynh đệ nhứt cá si
Độc hữu nhứt cá tối linh ly
Ngũ cá môn tiền tố mãi mại
Nhứt cá gia trung tác chủ y “