TRƯỚC THEM NĂM MƠI SẮP VỀ.
THA HƯƠNG LÂU QUÁ NẶNG NỀ NHỚ THƯƠNG.
Ơn Trời không bị lạc đường,
Nên thân còn khỏe, tinh thần ngộ KHÔNG.
Đông tàn nay sắp tân niên
Logo Năm Mới, Kinh Mừng
Cùng Vui.
Năm 1967 Viện Định Chuẩn được thành lập trực thuộc Bộ Công Kỹ Nghệ của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Năm 1972 Viện được đổi tên là Viện Quốc Gia Định Chuẩn,một cơ quan công lập tự trị có tư cách pháp nhân trực thuộc Bộ Thương Mại và Kỹ Nghệ. Tính đến ngày 30-4-1975 Viện đã ban hành 120 tiêu chuẩn quốc gia.
TRƯỚC THEM NĂM MƠI SẮP VỀ.
THA HƯƠNG LÂU QUÁ NẶNG NỀ NHỚ THƯƠNG.
Ơn Trời không bị lạc đường,
Nên thân còn khỏe, tinh thần ngộ KHÔNG.
Đông tàn nay sắp tân niên
Logo Năm Mới, Kinh Mừng
Cùng Vui.
KHÔNG CÓ AI BIÊT RỎ CÂY GIÁNG SINH XUẤT HIỆN TỪ THỜI NÀO.
Tại nước Đức co ghi chép vào thế kỷ thứ 8 trong phái đòan
truyền giáo của Anh Quốc tới nước Đức có thánh St. Boniface đã dựng lên một cây xanh bôn mùa
tượng trưng cho Chúa Jesus bất diệt.
Tới
thế kỷ 16, cây giáng sinh xuất hiện
khắp nơi tại nước Đức.
Năm
1843 tại Anh quốc, nhà viết báo tên Charles Dickens (1812-1870) viết cuốn tiểu thuyết ngắn gọi là “Christmas Carol” kể chuyện hồn ma đêm Giáng Sinh .
TIM HIỂU PHÓNG VÊ TINH LÊN QUỸ ĐẠO THẤP LEO
1- NHIÊN LIỆU XỬ
DỤNG PHÓNG ROCKET MANG VỆ TINH.
Dùng nhiên liệu lõng có nhiều
tiện lợi hơn nhiên liệu đặc.
Với nhiên liệu lõng thi thực
hiện dễ dàng tắt, mở, đốt cháy và kiểm sóat được lưu lượng nhiên
liệu vào phòng đổt (Combustion chamber)
Có nhiều loại nhiên liệu dùng
để phóng rocket nhưng hiện nay chi có 3 loại
căn bản và rất phổ thông có trạng thái lõng (liquid) với tên
là :
RP-1, Hydrogen, Methane
RP-1 goị là
Refined Petroleum hoậc Rocket Propellant tinh lọc từ dâu thô (crude
oil) kerosene
RP-1 được xử dụng nhiêu
nhất trên thế giới. Trộn RP-1 chung với oxy
lỏng trong phòng đốt cháy để đẩy rocket bốc lên khỏi mặt đất.
Hổn hợp nầy được
đặt tên là kerolox nghía là kerosene
trộn với Liquid Oxygen (lox).
Hydrogen lõng trôn với oxy .
Hydrogen lõng trộn
với oxy lỏng goị la hydrolox. Đôt cháy hydrolox thay cho
kerolox khi rocket vào quỹ đạo ơ cao độ 67.6
km (42 miles) vì hydrolox có đặc
tính thoat khí đốt xong ra nhanh hơn kerolox.
Đặc tính đó goị là specific impulse cho
biết vận tốc thoát khí (exhaust velocity)
Kerolox tạo sức đẩy
mạnh hơn hydrolox lúc khởi sự phóng
rocket nhưng có vận tốc thoát khí (specific
impulse) lâu hơn hydrolox.
Specific impulse trung
bình của Hydrolox là 450 giây.
Specific impulse cua Kerolox trên 470.2 giây.
Đó là lỹ do chỉ
đổt hydrolox khi phi thuyền bay vào không
gian .
2-SỐ
LƯƠNG NGUYÊN LIỆU XỬ DỤNG CHO APOLLO 11.
Apollo 11 phóng lên không
gian ngay 16-7- 1969, đưa 3 phi hành gia Mỹ lên mặt trăng lần đầu tiên trên thế giới.
Trước giờ
phóng, Apollo 11 gồm co Rocket Saturn V mang
nhiên liệu và
phi thuyền chở 3 phi hành gia Mỹ có sức nặng tổng cọng là 3,038,500 kg.
Riêng rocket Saturn V có sức nặng là 2,923,387 kg .Ngaỳ nay Rocket Saturn V không còn được xử dụng nữa.
Rocket Saturn có 3 tầng khác nhau.
Tầng thứ
nhất S-IC do công ty Boeing tại New Orleans chê tạo.
Tạo sức đầy 3,470 00O kg lực và chứa Kerolox.
Tầng thứ hai S-II do
công ty North American Aviation tại
Seal Beal Beach, California chế tạo
Tạo
sức đẩy 526,176
kg lực và chứa hydrolox.
Tầng thứ ba S-IVB do
công ty Douglas Aircraft Company tại
Huntington Beach,California chế tạo.
Tạo sức đẩy 104,326 kg lực và
chứa hydrolox
Sau khi phóng rocket, tất cả đều bỏ trong không gian không có gì để dùng lại .
Tầng thứ nhất chứa oxygen lỏng và xăng loai
Rp-1 để đổt tạo sức đưa rocket thoát khỏi śức kéo của địa cầu. Tầng nầy chỉ ráp vào rocket trước
giờ phóng. Tầng thứ nhất có 5 động cơ đốt nhiên liệu,
khi rocket lên độ cao
67 km (42
miles) thì ngưng đổt. Sau
khi đổt xong , tầng thứ nhứt đã tiêu thụ tổng cộng .
203,400 gallons(770,000
liters) nhiên liệu RP-1
318,000 gallons (1.2
triệu liters) oxy lõng.
Tiêu thụ tổng cộng 521,400 gallons kerolox
Chia sức nặng của
Apollo 3,038,500 kg cho số lượng
nhiên liêu 521,400 gallons kerolox đã tiêu thụ, chúng ta tìm thấy phải tiêu thụ một gallon kerolox cho 5.83 kg
( gần 6 kg ) của rocket .
Khi 5 động cơ tầng
thứ nhất đốt xong tạo sức đẩy 3,470,000 kg lực
để
rocket ra khoỉ sức kéo của địa câu thì tầng thứ hai
của rocket đố́t nhiên liệu hydrolox tạo lực 526,176 kg đây rocket vào quỹ
đạo .
Tầng thứ ba có sức
đẩy 104,326 kg làm ổn định
rocket bay quanh địa cầu.
Trên cao độ vì không
có không khí nên hydrolox là nguyên liệu lý tưởng rất quan
trọng vi hydrolox không bị đông đặc và có vận tốc thoát khĩ thải ra
rất nhanh. Mỗi giây đã đổt cháy 18,000 kg
hydrolox.
KẾT LUẬN
Từ kết quả thành công tốt
đẹp đã có của công trĩnh Apollo 11, chúng ta học được như sau.
1-Sức nặng tổng cộng của
Apollo 11 là 3,038,500 kg.
2-Lực nâng Apollo 11 bổc lên
khỏi mặt đất là 3,470,000 kg.
3- Nhiên liệu phải dùng là Kerolox để đốt bốc rocket lên khỏí mặt đẫt. Đốt một gallon kerolox cho 5.83 kg
(gần 6 kg) của rocket .
4-Trên không gian phải đốt hydrolox để đẩy rocket vì hydrolox không bị đông đặc và có độ thoát
khí thải ra rất nhanh hơn kerolox.
Lỹ do RP-1
có ưu điểm như sau.
Dễ sản xuất nên rẻ tiền.Tồn trử bình
thường. Ty trọng năng lương cao. Độc hại thấp. Thùng chứa nhỏ. Bốc hơi
ít nên không sợ độc hại. Độ bỗ́c cháy thấp.
CÃCH TÍNH TỐC ĐỘ CỦA VỆ TINH TRÊN QUỸ ĐẠO.
I-TÍNH TỐC ĐỘ QUAY
CÚA ĐỊA CẦU.
Tốc độ
quay (Orbital velocity) V0 của địa cầu quay
quanh mặt trời được tính như sau.
Bán kính của quỹ đạo mã địa cầu di chuyển trên đó quanh mặt trời là r1=149,598,000 km=1au.
Chu vi của quỹ đạo địa cầu quanh mặt trời là 2 π r1 = 939,952,000km.
Chia chu vi đó cho 365.25 ngày rồi đổi ngày ra giây thì có tốc độ quay (orbital velocity) của địa
cầu là.
V0 = 939,952,000 / [(365.25)x(86400)]=29.785
km/s . Gần bằng 30km/s.
II-TÍNH TỐC ĐỘ́ CUA
VỆ TINH TRÊN QUỸ ĐẠO
Theo nghiên cúu của Huygens và Newton đã tim được hai công thức
sau.
Sức hút của đia cầu là F = mg .
Lực ly tâm của vệ tinh là F0 = mV02/r
m là khối lượng của vệ tinh.
r là khoảng cách của tâm địa cầu tới tâm của vệ tinh khi vệ tình nằm
trên mặt đất.
Vo là vận tốc của vệ tinh trên quỹ đạo. Vận tốc nằm trên tíếp
tuyến với quỹ đạo.
g là trọng lực (gravity) của địa cầu, là sức hủt kéo của địa
cầu trên vật chất .
Địa cầu có g=9.8 do Newton nghiên cứu tìm ra năm 1686 đo bằng đơn vị goị là Newton.
Muốn vệ tinh bay quanh địa cầu thì lực ly tâm của vệ tinh phải bằng sức hút của địa cầu đối với vệ tinh.
Lực ly tâm tuỳ thuộc
vào khoảng cách và vận tốc bay của vệ tinh.
Khoảng cách gồm bán kính r của địa cầu cộng với độ́ cao h cách mật đất.
Nên chúng ta viết mg = mV02/r
Bỏ m, chúng ta có g = V02/r,
và
gxr = V02
Chúng ta thấy rỏ tốc độ bay vo của vế tinh tuỳ
thuộc vào trong lực g của địa cầu và
độ cao r của vệ tinh đối với tâm của
địa câu.
Đơn vị đo trọng lực g là Newton hoậc m/s2
Trọng lức của địa cầu do Newton đã tìm ra là g=9.8 m/s2. Nếu tính theo đơn vị Newton thì g=9.8 N
go là trong lực (gravity) của vệ tinh mà chúng ta phải tìm. Khi tim được go thì sẽ tim được dễ dàng tốc độ của vệ tinh trên quỹ đạo theo bài tính dưới đây. Càng lên cao thĩ trọng lực go của vệ tinh càng giảm xuống.
Bán kính của địa cầu đo tại
xích đạo là
r= 6400 km.
Muốn có trọng lực (gravity) g0 thì áp dụng công thức g/g0 = ( h/r)2
h là cao độ của vệ tinh đo
tới tâm của địa cầu..
go = g / (h/r)2.
Bán kính của địa cầu là 6400 km.
Thí du nếu vệ tinh ở cao độ 40 km đối mặt đất
thì h =
40 km + 6400 km = 6440 km. Đổi h ra mét. Sau khi tính, chúng ta tìm
thấy V0 = 7.9
km/s gần bằng V0 = 8 km/s .
Vậy muốn vệ tinh không bị địa câu kẽo xuống khi lên cao đố 40 km thì vệ tinh phải có tốc độ bay quanh
địa cầu V0 = 8 km/s goị
là escape velocity.
Trên thực tế vo tính theo công thức .
Ve = 1.4142 x 8 = 11.31 km/s.
1.4142 là căn số của con số 2.
Nếu velocity lớn hơn 8km/s và
nhỏ hơn 11.3km/s , thì vệ tinh
sẽ vào quỷ đạo hình ellipse quanh địa cầu.
Nếu rocket chở vệ tinh có velocity lớn hơn
11.3km/s (escape velocity)
thì vệ tinh sẽ không còn bay quanh địa cầu nữa.
Lúc
nầy tầng thứ hai của rocket mang vệ tinh phải khai hỏa
lần thứ nhứt tạo tộc độ phóng vệ tinh goị là launch
velocity bằng 32.72 km/s để
vào Hohmann Transfer Orbit.(Xem
hình vẽ)
KẾT LUẬN
1-Muốn vệ tinh bay quanh địa cầu trên nhiều quỹ đạo cao hay thấp
khac nhau thì phải :
-Tìm go là trọng lực (gravity) của vệ
tinh theo cách tính trên.
-Tìm được go thì tinh được tốc độ của vệ
tinh theo công thức gxr = V02.
-Chọn cao độ tuỳ ý rồi cộng
với đường bán kính của địa cẩu lả 6400 km.
2-MUỐN VỆ TINH BAY LÊN HOẢ TINH
THÌ ROCKET MANG VỆ TINH PHẢI CÓ ESCAPE VELOCITY LÀ 32.72
km/s MỚI CÓ THỂ BAY TRÊN QUỸ ĐẠO Hohmann Transfer Orbit theo
hinh vẽ.
Quỹ đạo
Hohmann Transfer giúp chúng ta ít tốn nhiên liệu đẩy rocket mang vệ
tinh.
3-Một Newton (1 N)
là trọng lực của địa cầu tác động trên một khối vật chất nặng
khoảng 102 gram.
9.8 N là trọng
lực của địa cầu tác động trên khối vật chất nặng 1 kg.
TÌM
HIẾU NHƯNG QUỸ ĐẠO KHÔNG GIAN VÀ CÁCH XỬ DỤNG
Quỹ đạo trên không
gian đã được chưng minh có thật bởi Johannes Kepler và Isaac Newton từ
thế kỹ 17.
Trước thế kỹ 17, người Âu Chau tin tưởng mật trời di chuyển quanh địa cầu. Ai nói ngược sự tin tương đó đêu bị tội tử hình hoậc bị tù .
Tơi thế kỷ 20 ,Albert Einstein tìm được luật căn bản về vật lỹ nên chưng minh đia cầu di chuyển chứ không đứng yên và trên không gian có nhiều quỹ đạo để đia cầu và các hình tinh di chuyển quanh mặt trời.
Ngaỳ nay thế giới đã tìm thấy có 7 loại quỹ đạo trên không gian.
1-Quỹ đạo thẩp goị là LEO (Low-Earth orbit). Có cao từ 160 km
tới 1600Km
Thời gian vệ tinh
bay trong LEO lâu 90 phút.
2-Quỹ đạo cao “High Earth Orbit” (HEO) gọi là “Geostationary
Orbit” hoặc tên
Geosynchronous Orbit” nghía
là quỹ đạo đồng bộ với đia câu. Lý do đồng bộ là thởi gian vế tinh
bay trên quỹ đạo nầy băng thời gian 24
giờ quay của địa cầu .
Độ cao cuả Geosynchronous
Orbit” (HEO) là 36 000 km.
HEO còn có tên là GEO
3-Quỹ đạo trung
bình “Medium Earth Orbits”
(MEO). Nầm giữa LEO và HEO. Có cao độ từ 2,000km tới 35,786 km.Thời gian vệ tinh bay trên MEO mất 12 giờ.
Ba qũỹ đạo và Lagrange Points sau đây được dùng để nghiên
cứu về mặt trời và địa cầu.
4-Quỷ đạo cực địa cầu. Polar Orbit. Có cao độ 200km-1000km thuộc loại LEO.
Quỹ đạo nầy bao trum địa cầu.
Vệ tinh trên quỹ đạo nây quan sát
tất cả bề mặt của địa cầu từ bắc cực tới nam cực. Vệ tinh chỉ bay
tư bắc xuống nam nhưng tại hai cực thì bị nghiêng một góc 20-30 độ
5-Quỷ đạo
Transfer Orbit (GTO)
6-Quỷ đạo đồng
bộ với mặt trời
Sun-sychronous Orbit (SSO)
Vệ tinh trên
quỹ đạo nầy theo dõi độ nghiên của mặt trời và cũng theo dõi các
vệ tinh.
7- Lagrange Points.
II-CÁCH XỬ DỤNG CÁC QUỸ ĐẠO
1-Quỹ đáo thấp nhất gọi là LEO (Low-Earth
orbit) có cao độ trên mặt biển từ 160km
tới 1,600 km.
Vệ tinh không thể bay dưới 160 km vĩ sức cảng
của khí quyển.
Muốn cho phi thuyền bay quanh địa cầu thì cân
phải dùng lực đẩy phi thuyền lên tới quỹ đạo nây.
Trên quỹ đạo nây, phi thuyền bay một vòng lâu 90 phút.
Thời gian của một vòng bay quanh goị là
Orbital Period tính bằng giây (s)
Trạm không gian qùốc tế ISS hiện nay đang bay 16 vòng mỗi ngày trên quỹ đạo LEO.
Trên xích đạo mặt phầng của LEO hơi nghiên (tilted plane) với gọc 23.4 độ theo độ nghiên của trục địa cầu cho nên có rất nhiều vệ tinh bay tha hồ theo nhưng đường bay riêng không bị trở ngại.
Có khoảng 55 phần
trăm vế tịnh bay ở quỹ đạo LEO
2-Quỷ
đạo cao (High Earth
Orbit) goị là
“Geostationary Earth Orbit” (GEO)
hoặc “Geosynchronous Orbit” cách mặt
đất 36 000 km.
Lỹ do đặt hai tên như vậy vi vệ tinh thời tiết
phải bay trên quỹ đạo nầy cung với tốc độ quay của địa câù mới có
thể quan sát sứ thay đổi thời tiết trên địa cầu trong 24 giờ.
Dưới đất nhìn thấy mỗi ngay vế tình tiên đóan thời tiết xuất tại một chố không thay đổi,
Những vệ tinh thời tiết “Geostationary satellites” được cho bay theo quỹ đạo hình tròn nằm cao trên xích đạo của địa cầu.
Trên quỹ đạo GEO
nầy còn có những vê tinh theo dõi những tai nạn mảy bay và tàu biển
trên địa cầu, nhừng vệ tinh chuyên môn gới sóng điện thoại.
Trên quỹ đạo GEO có
khoảng 35 phần trăm vệ tinh hoạt động.
Trước tiên phải khai hỏa tầng thứ nhứt của rocket lên tới khoảng 160 km để vào quỹ đạo vòng tròn số 1 quanh đia cầu với tốc độ quay quanh địa câu là 8km/s.
Nếu tốc độ lớn hơn 8km/s và nhỏ hơn 11.3km/s , rocket sẽ vào quỹ đạo hình ellipse số 2 quanh địa cầu.
Nếu rocket có tốc độ bằng 11.3km/s gọi là “escape velocity” thì sẽ không còn bay quanh địa cầu nữa vì lực ly tâm của rocket lớn hơn lực niú kéo của địa cầu.
Lúc nầy tầng
thứ hai của rocket phải khai hoả lần thứ nhứt tạo launch
velocity bằng 32.72
km/s để vào quỷ
đạo gọi là Hohmann
Transfer Orbit nếu chúng ta muốn phi thuyền tới một hành tinh khác.
Năm 1925 Kỹ sư người Đức Germany tên là
Walter
Hohmann đã chứng minh được quỹ đáo hình
ellipse tiếp tuyến với quỹ đạo của địa cầu và
tiếp tuyên với quỹ đạo của hành tinh là đương phi thuyền ít tốn năng
lượng.
Thế giơi từ lâu đã xứ dúng quỹ đạo nầy nên đật tên cho quý đạó là “Hohmann Transfer Orbit “.
iV-CÁCH
TÍNH NĂNG LƯỢNG ĐỂ ĐƯA PHI THUYÊN LÊN QUỸ ĐẠO-
Còn tiếp